Tìm mã xác nhận trong thư và sao chép đúng mã
Một hộp thư chỉ đọc được khi đúng dữ liệu kết nối, đúng quyền và đúng phương thức. Bài này giải thích cách thao tác trên công cụ hiện tại, đọc thông báo và đối chiếu kết quả. Bạn sẽ biết khi nào nên thử lại và khi nào cần kiểm tra nguồn cấp quyền, thay vì hiểu mọi lỗi là do mật khẩu hoặc tự thay các giá trị trong token.
Dãy số không luôn là mã
Năm, địa chỉ mạng hoặc số tham chiếu có thể giống mã xác nhận về độ dài. Nút sao chép số trong thư hiện tại là gợi ý nhận diện, không phải khẳng định chắc chắn. Hãy xem tiêu đề và nội dung để xác định số nào được yêu cầu ở phiên xác minh đang thực hiện.

Ưu tiên thư đúng thời điểm
Một thư xác nhận cũ vẫn có thể hiển thị mã nhưng không còn phù hợp với yêu cầu mới. Đối chiếu người gửi, tiêu đề và thời gian nhận trước khi chép. Mã dạng có gạch ngang nên được nhập theo hướng dẫn của dịch vụ, không mặc định mọi nơi đều bỏ dấu hoặc chấp nhận cùng độ dài.
Dùng nút chuyển phương thức khi cần
Khi yêu cầu thất bại, giao diện đưa ra nút chuyển sang phương thức còn lại và đọc lại. Nút này giúp thử một lựa chọn có thể phù hợp hơn, không hứa sửa được mọi lỗi. Nếu Graph hoạt động còn IMAP thất bại, có thể dùng Graph để đọc thư trong phiên; việc đó không tự sửa quyền IMAP. Nếu cả hai thất bại, kiểm tra token, Client ID và mạng thay vì thử liên tục. Một yêu cầu bị hủy hoặc quá thời gian cũng cần xem xét kết nối trước khi kết luận rằng hộp thư không tồn tại hoặc không có thư.

Đọc đúng phạm vi của danh sách kết quả
Phiên bản hiện tại lấy tối đa mười lăm thư mới nhất trong hộp thư đến. Nó không bao gồm mọi thư mục và không tải toàn bộ lịch sử. Nếu tài khoản chỉ có ba thư trong phạm vi này, ba thẻ có thể là kết quả đúng. Nếu thư cần tìm nằm trong thư rác hoặc thư mục riêng, hãy xem bằng giao diện hộp thư chính thức. Công cụ không tự gửi yêu cầu tạo mã cho dịch vụ khác. Bạn cần thực hiện yêu cầu xác minh ở dịch vụ đó, chờ thư mới tới rồi đọc lại để kiểm tra thời gian và nội dung.
Đối chiếu mã với nội dung của thư
Bộ tìm số hiện tại có thể đưa ra các dãy bốn đến tám chữ số hoặc dạng ba số nối ba số làm gợi ý sao chép. Không phải mọi dãy đều là mã xác minh: năm, số tham chiếu hoặc phần địa chỉ mạng cũng có thể bị nhận diện. Mở Xem nội dung thư để đọc câu yêu cầu dùng mã và đối chiếu tiêu đề. Chọn đúng thư gắn với phiên xác minh hiện tại; mã trong thư cũ có thể không còn được chấp nhận. Nút sao chép chỉ đưa số vào clipboard, không xác nhận hiệu lực và không tự đăng nhập.
Nội dung văn bản và giới hạn hiển thị
Thẻ thư hiển thị tiêu đề, người gửi, thời gian và nội dung dạng văn bản. Những hình ảnh, nút định dạng hoặc bố cục HTML có thể không giống giao diện Outlook vì trang không dựng trực tiếp HTML từ người gửi. Cách hiển thị này phục vụ đọc và đối chiếu, không thay thế ứng dụng thư đầy đủ. Địa chỉ người gửi hoặc tiêu đề quen thuộc chưa đủ chứng minh thư đáng tin; bộ đọc không có chức năng đánh giá giả mạo. Khi cần xử lý liên kết, tệp đính kèm hoặc thư mục khác, dùng công cụ phù hợp và kiểm tra mục đích riêng.

Thông tin được gửi đi đâu khi đọc thư
Thông tin nhập được chuyển tới dịch vụ cục bộ trên máy để thực hiện OAuth và đọc thư từ Microsoft. Vì vậy, khác với phép tách văn bản, tính năng đọc thư thực sự có kết nối mạng. Server hiện tại không chủ động ghi token, mật khẩu hay nội dung thư ra tệp lịch sử. Điều đó không xóa dữ liệu ở clipboard hoặc phần mềm khác trên máy. Không đưa token vào ô tên trước và sau của bộ tách vì các ô đó lưu lịch sử. Khi chia sẻ lỗi, dùng thông báo và cấu trúc giả, tránh ảnh chứa trọn token thật.
Xóa dữ liệu và kết thúc phiên đọc thư
Nút Xóa thông tin và thư hủy yêu cầu giao diện nếu còn chờ, làm trống đầu vào và các thẻ kết quả. Nó không thu hồi quyền ứng dụng trên Microsoft và không xóa thư trong hộp thư. Bộ đọc được thiết kế để đọc, không đánh dấu thay đổi nội dung hộp thư qua thao tác xem. Muốn thu hồi quyền, dùng phần quản lý tài khoản tương ứng; muốn dừng dịch vụ cục bộ, đóng hoặc dừng server. Đây là các thao tác có phạm vi khác nhau. Sau khi hoàn tất, kiểm tra các bản sao đã chuyển ra ngoài trang để không nhầm xóa biểu mẫu với xóa toàn bộ dữ liệu.
Chuẩn bị đúng thông tin kết nối hộp thư
Bộ đọc nhận một tài khoản mỗi lần theo dạng Email|Pass|RefreshToken|ClientID. Mật khẩu được chấp nhận trong định dạng nguồn nhưng không được dùng để đăng nhập trực tiếp. Dịch vụ cục bộ xin access token từ Microsoft bằng refresh token và Client ID. Bạn cần quyền truy cập tài khoản cùng phạm vi ứng dụng đã được cấp. Token trông dài hoặc có đúng số trường chưa chứng minh xác thực sẽ thành công. Khi sao chép từ nguồn, giữ nguyên dữ liệu và không thay Client ID bằng định danh của ứng dụng khác chỉ vì thấy nó trong một ví dụ hướng dẫn.
Mở trang qua dịch vụ chạy trên máy
Đọc thư cần bộ xử lý phía máy, nên chạy mo-doc-mail.cmd và dùng địa chỉ localhost do cửa sổ server thông báo. Trang mở bằng đường dẫn file có thể hiển thị giao diện nhưng không đủ để gọi bộ đọc thư. Cổng có thể thay đổi nếu phiên trước đang sử dụng cổng mặc định. Dùng trang tự mở hoặc kiểm tra địa chỉ của phiên mới thay vì truy cập một đường dẫn cũ. Khi mã server được cập nhật, cần khởi động lại dịch vụ; làm mới trình duyệt chỉ tải lại phần giao diện và không thay mã Python của tiến trình đang chạy.

Câu hỏi thường gặp
Có cần kiểm tra lại dữ liệu sau mỗi lần thay đổi không?
Có. Khi thay đổi đầu vào, hãy kiểm tra trạng thái và kết quả mới trước khi dùng. Đừng dựa vào kết quả của phiên trước để xác nhận cho nguồn vừa chỉnh. Với thao tác sao chép, đối chiếu thông báo thành công cùng nội dung bạn định chuyển. Nếu xảy ra lỗi, đọc mô tả ngay tại công cụ và xử lý đúng phần bị báo. Dữ liệu ví dụ trong bài chỉ để thực hành, không dùng để đăng nhập hoặc thử kết nối một hộp thư thật.
Làm sao biết đã hoàn tất đúng mục tiêu của bài?
Hãy xác nhận bạn đã hiểu vấn đề được nêu ở hai phần đầu, thực hiện bước phù hợp trong công cụ và kiểm tra giới hạn của kết quả. Một mã đã xuất hiện, một thẻ đã tách hoặc một danh sách thư đã tải là kết quả của chức năng tương ứng, không chứng minh tất cả dữ liệu nguồn đúng. Nếu mục đích tiếp theo là xác minh ở một dịch vụ khác, cần thực hiện bước đó riêng. Sau cùng, xóa dữ liệu trong trang khi không còn dùng và kiểm tra nơi đã sao chép.